Các trí thức đã tìm thấy Đức Chúa Trời như thế nào?

Ban đầu, Matthew Crawford chẳng tin điều gì.
“Câu hỏi về Đức Chúa Trời thậm chí còn chưa từng xuất hiện trong đầu tôi,” tác giả sách bán chạy này nói với tôi.
Ông lên 8 tuổi khi cha mẹ ly thân, rồi theo mẹ đến một đạo tràng Hindu ở Oakland, California. Rồi có những chuyến đi đến Ấn Độ; miền bắc bang New York; Miami Beach, Florida; Santa Monica, California. Nhưng chẳng nơi nào bám rễ trong ông.
Giống như mẹ mình, Crawford, nay 59 tuổi, vẫn luôn kiếm tìm. Ông không chắc mình là ai, hoặc mình nên trở thành người như thế nào—làm sao để hạnh phúc, thế nào là một người đàn ông.
Trong thập niên 1990, ông là nghiên cứu sinh tại Đại học Chicago, nơi ông học triết học Hy Lạp và chấp nhận lập trường bất khả tri của mình—“quan điểm được người hiện đại ưa chuộng,” ông nói nửa đùa nửa thật.
“Khi còn trẻ, tôi rất bị ấn tượng bởi phê phán của Nietzsche đối với Cơ Đốc giáo,” ông nói. Nhà triết học Đức ấy xem tôn giáo chẳng hơn gì một thứ “đạo đức nô lệ”—một chiếc nạng cho kẻ yếu đuối và hèn nhát.
Nhưng rồi, năm 2016, Hội Thánh Anh giáo Saint Margaret tại Winnipeg, Canada, mời Crawford đến nói chuyện về “cuộc khủng hoảng của sự chú ý,” chủ đề cuốn sách mới nhất của ông lúc bấy giờ. Chính khi ấy, Marilyn Simon, một học giả Shakespeare và là thành viên của nhà thờ, bước vào đời ông.
Theo lời ông, đó là “câu chuyện quy đạo kinh điển mà người ta vẫn thường nghe.”
Simon thông minh và cuốn hút, Crawford nói, và bà “tràn đầy một sức mạnh quảng đại nào đó.” Nguồn của sức mạnh ấy là đức tin của bà.
Đột nhiên, trong ngôi thánh đường xinh đẹp và xa xôi ấy—được trang hoàng bằng những ô cửa kính màu, những hàng ghế gỗ gụ, một cây đại dương cầm cỡ nhỏ, và những cây thập tự tưởng niệm những người trong hội chúng đã ngã xuống trong các cuộc thế chiến—Crawford, lúc ấy đang trải qua một cuộc ly dị tại quê nhà ở Virginia, có thể thoáng nhìn thấy một tương lai mới. Một tương lai có Simon. Và có lẽ, có cả Đức Chúa Trời.
Cuối cùng, vào cuối năm ngoái, Crawford quy nhập Anh giáo. Rồi đến tháng Sáu, Crawford và Simon kết hôn tại Saint Margaret.
“Đôi khi tôi ví nó như một trải nghiệm khai mở tri giác,” Crawford nói. “Bạn cảm thấy như mình tiếp cận được một tầng thực tại nào đó mà trước đây mình không hề thấy.” Ông đang nói đến Đức Chúa Trời, nhưng dường như ông cũng đang nói về vợ mình.
“Rất nhiều người suy tư sâu sắc, từng tin rằng lý trí và khoa học có thể giải thích mọi điều—vì sao chúng ta ở đây, điều gì xảy ra sau khi chúng ta qua đời, tất cả những điều này có ý nghĩa gì—nay đang thật sự khao khát một điều gì đó vượt xa hơn thế,” ông nói.
“Phải có một trật tự lớn hơn, bao hàm chúng ta và đòi hỏi điều gì đó nơi chúng ta,” Crawford nói thêm. “Rõ ràng là chúng ta không thể sống nếu không có một cảm thức về ý nghĩa vượt lên trên chính mình.”
HYPERLINK "https://substackcdn.com/image/fetch/f_auto,q_auto:good,fl_progressive:steep/https%3A%2F%2Fsubstack-post-media.s3.amazonaws.com%2Fpublic%2Fimages%2F12993aa8-701e-45c1-996b-7cba8a6a1c21_1024x479.png" \t "_blank"
Matthew Crawford. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
Nếu Crawford nghe chính mình nói những điều này vào năm 1996, khi ông vẫn còn là nghiên cứu sinh, hẳn ông sẽ vô cùng sửng sốt. Đó là năm nhà sinh học tiến hóa Richard Dawkins, khi phát biểu tại một hội nghị của Hiệp hội Nhân văn Hoa Kỳ (American Humanist Association), tuyên bố: “Tôi nghĩ có thể lập luận rằng đức tin là một trong những tai họa lớn của thế giới, có thể so với vi-rút đậu mùa nhưng khó diệt trừ hơn.”
Nhưng đang có một chuyển động sâu xa. Thay vì cười nhạo tôn giáo, một số triết gia, tiểu thuyết gia, và trí thức công chúng quan trọng nhất của chúng ta nay đang xét lại thái độ khinh miệt của họ đối với tôn giáo. Họ tự hỏi liệu mình có bỏ lỡ điều gì không. Nhà sử học Niall Ferguson nói với tôi rằng tôn giáo “tạo nên một thứ miễn dịch đạo đức trước những tôn giáo giả của Lenin và Hitler.”
Có điều gì đó gần như tất yếu trong sự xét lại này, Jonathan Haidt, nhà tâm lý học nổi tiếng của Đại học New York và là tác giả sách bán chạy, nói với tôi. (Các sách của Haidt bao gồm The Righteous Mind: Why Good People Are Divided by Politics and Religion.) “Có một khoảng trống mang hình bóng Đức Chúa Trời trong mỗi tấm lòng con người, và tôi tin tiến hóa đã đặt nó ở đó,” ông nói. Ông đang gợi đến nhà triết học Pháp thế kỷ XVII Blaise Pascal, người đã viết rất nhiều về bản chất của đức tin.
“Chúng ta đã tiến hóa qua một thời kỳ dài của xung đột và bạo lực giữa nhóm này với nhóm kia, và chúng ta phát triển khả năng tạo nên một vòng tròn thiêng liêng rồi gắn kết mình với người khác theo cách tạo nên một cộng đồng vững mạnh,” Haidt nói với tôi.
Ferguson nói thêm rằng “người ta không thể xây dựng một xã hội trên nền tảng chủ nghĩa vô thần.”
“Một nhóm nhỏ nói rằng, ‘Chúng tôi là người vô thần, chúng tôi chọn đứng ngoài,’ thì cũng được,” ông nói, “nhưng trên thực tế, điều đó phụ thuộc vào việc những người khác vẫn tiếp tục gánh vác và duy trì mọi thứ. Nếu tất cả những người khác cũng nói, ‘Chúng tôi cũng rút lui,’ thì rất nhanh anh sẽ rơi vào một cơn xoáy hỗn loạn như cơn ác mộng của Raskolnikov”—trong đó Rodion Raskolnikov, nhân vật chính trong Tội ác và Hình phạt của Fyodor Dostoevsky, thấy một thế giới bị chủ nghĩa hư vô và chủ nghĩa nguyên tử nuốt chửng, tự xé nát chính mình. “Điều hấp dẫn của cơn ác mộng ấy là, đối với bất cứ ai đã đi qua thế kỷ XX, cơn ác mộng ấy giống như một lời tiên tri.”
Sự trỗi dậy và suy tàn của những người vô thần mới
Trong hơn một thế kỷ, những người ở đỉnh cao của cái gọi là giới trí thức đã khăng khăng rằng, sau thời Khai sáng, tin vào Đức Chúa Trời là điều không thể. Không phải tất cả họ đều nói thẳng thừng như Friedrich Nietzsche trong tác phẩm Khoa học vui năm 1882, nơi ông tuyên bố rằng “Đức Chúa Trời đã chết.” Họ cũng không phải ai cũng cố tìm cách phá bỏ toàn bộ nền tảng tôn giáo như nhà triết học Bertrand Russell trong tiểu luận năm 1927 “Tại Sao Tôi Không Phải Là Cơ Đốc Nhân,” nơi ông lập luận rằng tôn giáo chủ yếu dựa “trên nỗi sợ.”
Nhưng tựu trung, lập trường ấy chính là như vậy.
Tinh thần vô thần mới ấy báo trước một sự chối bỏ đức tin rộng lớn hơn rất nhiều: Trong nhiều thập niên sau đó, số người có đức tin ở phương Tây sụt giảm mạnh. Năm 1999, 70 phần trăm người Mỹ nói họ thuộc về một cộng đồng thờ phượng; đến năm 2020, con số ấy chỉ còn 47 phần trăm—lần đầu tiên thấp hơn một nửa dân số cả nước. Trong khi đó, tỷ lệ người Mỹ tự nhận là Cơ Đốc nhân đã giảm—từ đỉnh khoảng 90 phần trăm vào đầu thập niên 1970 xuống còn 63 phần trăm vào năm 2022. Đến năm 2070, Cơ Đốc nhân được dự đoán sẽ trở thành thiểu số tại Hoa Kỳ. Đa số sẽ gồm những người thuộc các tôn giáo khác và, ở mức độ lớn hơn nhiều, nhóm “không tôn giáo,” tức những người không theo một đức tin nào cả.
Các vụ tấn công khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001 dường như chỉ càng xác nhận bước ngoặt chống lại tôn giáo—đặt phương Tây đang thế tục hóa đối đầu với những người Hồi giáo cực đoan với nhiệt thành cuồng tín như vọng lại từ thời Trung cổ. Như trí thức Anh quốc và nhà vô thần nổi tiếng Christopher Hitchens từng nói, các vụ tấn công khiến ông không chỉ giận dữ và buồn bã, mà còn “phấn khích.”
“Tôi nghĩ, ‘Đây rồi, kẻ thù hiện ra rõ ràng và trần trụi nhất có thể: chủ nghĩa phát-xít thần quyền, bộc lộ dưới hình thức kinh hoàng nhất của nó,’” Hitchens nói không lâu sau vụ tấn công.
Năm 2007, Hitchens tổ chức một cuộc trò chuyện về chủ nghĩa vô thần tại nhà riêng của ông ở Washington, D.C., cùng ba gương mặt vô thần nổi bật khác: Dawkins, nhà triết học Daniel Dennett, và nhà văn kiêm nhà thần kinh học Sam Harris. Họ tự quay phim khi thảo luận về nhiều phản đối của họ đối với tôn giáo và những lời chỉ trích, nhiều khi cay nghiệt, nhắm vào họ vì đã nêu ra các phản đối ấy.
Cuộc thảo luận của họ lan truyền như một hiện tượng. Về sau Harris viết một cuốn sách về cuộc trò chuyện ấy, The Four Horsemen: The Conversation that Sparked an Atheist Revolution. Không tin vào Đức Chúa Trời không còn chỉ là chuyện thời thượng. Đối với giới đại học, đối với các tác giả bán chạy, đối với những người thống trị các diễn đàn trí thức ưu tuyển nhất của chúng ta, đó là lập trường duy lý duy nhất đáng có.
Chủ nghĩa vô thần mới trùng hợp—không phải ngẫu nhiên—với sự trỗi dậy của internet, biểu hiện cực điểm của một thời đại duy khoa học và duy lý đến cực độ đang thành hình: một thời đại mà mọi vấn đề đều có thể được giải quyết, mọi rào cản đều có thể vượt qua, mọi bệnh tật đều có thể được chữa lành. Chỉ cần một bản thuyết trình gọi vốn đúng cách và đủ vốn hạt giống. “Người ta đang tìm kiếm những vị thần mới, mượn một cụm từ của Heidegger, và với sự sùng bái công nghệ của chúng ta, sẽ là hợp lý nếu những vị thần mới ấy xuất hiện như một thứ công nghệ mới,” Crawford nói. “Anh sẽ nhận được những vị thần mà anh đi tìm.”
Giờ đây, 17 năm sau lần đầu bốn kỵ sĩ gặp nhau, Hitchens đã qua đời. Dennett cũng vậy. Harris vẫn là người vô thần. “Tôi không biết đây có phải là một xu hướng thật hay không,” Harris nói với tôi trong một email về sự thức tỉnh tôn giáo hiện nay. “Gọi tôi khi người ta bắt đầu tin vào Poseidon.”
Tôi không biết về chuyện đó, nhưng tôi có thể nói với bạn rằng những thiên tài công nghệ, các nhân vật truyền thông và người nổi tiếng từng đại diện cho chủ nghĩa vô thần mới đang suy nghĩ lại về điều chúng ta mất đi khi mất tôn giáo.
Chỉ trong năm vừa qua đã có một vài bằng chứng:
Tháng Hai năm 2024, người dẫn podcast Joe Rogan, trong một cuộc trò chuyện về tình trạng đáng buồn của giới trẻ Mỹ với Aaron Rodgers, tiền vệ của New York Jets, đã nói: “Chúng ta cần Chúa Jesus.” Chưa đầy năm năm trước đó, Rogan còn mời Richard Dawkins lên chương trình của mình và chế giễu các Cơ Đốc nhân.
Tháng Tư, diễn viên hài Russell Brand—người trong những năm gần đây nổi lên như một tiếng nói của phản văn hóa và đã thu hút hơn 11 triệu người theo dõi trên X—thông báo rằng ông sắp chịu báp-têm. “Tôi biết nhiều người hoài nghi về sự quan tâm ngày càng tăng đối với Cơ Đốc giáo và sự trở lại với Đức Chúa Trời, nhưng đối với tôi, điều đó thật hiển nhiên. Khi ý nghĩa trong thế giới hiện đại ngày càng suy kiệt, khi các hệ giá trị và định chế của chúng ta sụp đổ, tất cả chúng ta ngày càng ý thức rằng có một hình bóng thức tỉnh và vẫy gọi, quen thuộc đến lạ lùng, mà suốt đời chúng ta vẫn biết ở trong mình và quanh mình. Đối với tôi, điều đó làm tôi rất phấn khích.”
HYPERLINK "https://substackcdn.com/image/fetch/f_auto,q_auto:good,fl_progressive:steep/https%3A%2F%2Fsubstack-post-media.s3.amazonaws.com%2Fpublic%2Fimages%2F946000df-436d-47ad-b415-1656ca24d2ad_1024x479.png" \t "_blank"
Jordan Peterson. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
Tháng Năm, đại gia công nghệ Peter Thiel, người từng chủ trương một dạng tâm linh mơ hồ và từng là bạn của cố triết gia Pháp kiêm nhà tư tưởng tôn giáo René Girard, nay dứt khoát đứng về phía Đức Chúa Trời. “Đức Chúa Trời có một kế hoạch nào đó cho lịch sử,” Thiel nói khi được một mục sư phỏng vấn tại một ngôi nhà thờ cũ. “Có lẽ đó là một kế hoạch ẩn giấu; một kế hoạch bí mật. Ngài có một kế hoạch cho đời sống của anh.” Đó là một khoảnh khắc đáng chú ý: Một trong những “vị thần” của Thung lũng Silicon, người từ lâu lập luận rằng công nghệ có thể chữa lành cả sự chết, nay lại nói rằng có một Đức Chúa Trời chân thật duy nhất, và con người vẫn là con người—hữu hạn, phải chết, và lệ thuộc vào những thế lực lớn hơn.
Rồi đến tháng Bảy, Elon Musk—từng là “anh hùng vô thần,” ông vua xe điện và thám hiểm không gian, người cổ vũ cho tự do biểu đạt—ngồi xuống với Jordan Peterson, nhà tâm lý học Canada nghiên cứu mối giao thoa giữa tôn giáo và ý thức hệ, để bàn về Đức Chúa Trời. “Thật ra tôi là người rất tin vào các nguyên tắc của Cơ Đốc giáo,” Musk nói. Không lâu sau, Musk lên X tuyên bố rằng “nếu không có thêm lòng can đảm để đứng lên vì điều công bằng và đúng đắn, Cơ Đốc giáo sẽ lụi tàn.”
Rồi tháng trước, cuốn sách We Who Wrestle with God: Perceptions of the Divine của Peterson được xuất bản. Peterson vẫn luôn tránh nói rõ liệu ông có tin vào một Đấng quyền năng cao hơn hay không. Nay, trong chiếc áo khoác in hình thập tự Can-vê, ông phản bác những người vô thần mới. “Tôi sẽ nói Đức Chúa Trời thực hơn cả thực tại,” Peterson nói trong một cuộc phỏng vấn gần đây với Ben Shapiro để quảng bá cuốn sách. “Đức Chúa Trời là thực tại mà mọi thực tại khác đều lệ thuộc vào.”
Câu hỏi xoay quanh tất cả những người mới tin này là: Họ có thật sự tin không? Hay việc họ hướng về đức tin phần lớn, hoặc hoàn toàn, mang tính thực dụng—được thúc đẩy bởi mong muốn chống lại các thế lực của công nghệ, chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa thức tỉnh, và một Hồi giáo ngày càng mang tính chiến đấu? Họ có thật sự tin rằng Đức Chúa Jesus Christ là Con Đức Chúa Trời, rằng Ngài đã chết vì tội lỗi chúng ta và đã sống lại không? Hay họ chỉ nghĩ đó là một câu chuyện hay mà chúng ta nên kể cho nhau nghe vì nó khuyến khích con người đối xử tốt hơn với nhau—vì nó là một bức thành văn hóa? Và cuối cùng, điều đó có thật sự quan trọng không?
Andrew Sullivan, nhà văn và người dẫn podcast, gợi ý rằng điều này có thể không dễ trả lời. “Cảm giác”—cảm giác của việc tin—“sẽ thay đổi,” Sullivan, một người Công giáo, nói với tôi. “Đôi khi không có cảm giác gì cả. Đôi khi anh bị choáng ngợp. Điều cốt yếu thật ra là thoát ra khỏi chính cảm giác như vậy—cảm xúc của chúng ta không chứng minh điều gì.”
“Điểm đặc sắc của nghi lễ là nó cho phép chúng ta không cần diễn đạt cảm xúc của mình bằng lời,” Sullivan nói. “Nó cho phép chúng ta bày tỏ đức tin bằng một hành động.”
Paul Kingsnorth: Người tin thật sự
Vào thập niên 1980, khi còn nhỏ, Paul Kingsnorth thường có những chuyến đi bộ thật dài trên những lối mòn băng qua các dãy núi ở Wales, Scotland, và miền nam nước Anh. Chính khi ấy ông đem lòng yêu thiên nhiên—những khung cảnh dốc thoai thoải, những mảng xanh thẫm, vàng, nâu hạt dẻ và hổ phách nhấp nhô. Rừng cây, sông suối, không khí, sương mù.
“Cha tôi khi ấy bị những lối mòn ấy cuốn hút mạnh mẽ, và thường đưa tôi đi trong những chuyến rất dài,” Kingsnorth, 52 tuổi, nói với tôi.
Khi ấy ông không theo tôn giáo nào, nhưng “khi nhìn lại, tôi thấy mình đã có một thái độ gần như tôn giáo đối với thiên nhiên,” ông nói. “Thiên nhiên là Đức Chúa Trời, và thiên nhiên phải được thờ phượng.”
Nhìn lại, “tôi thấy đó là một xung lực tôn giáo, nhưng chưa được hướng về đúng đối tượng—nó hướng về tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa.”
HYPERLINK "https://substackcdn.com/image/fetch/f_auto,q_auto:good,fl_progressive:steep/https%3A%2F%2Fsubstack-post-media.s3.amazonaws.com%2Fpublic%2Fimages%2Faa4be91e-53c5-4c76-985d-a69be54efd69_1024x479.png" \t "_blank"
Paul Kingsnorth. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
Ông học lịch sử tại Oxford, rồi đi qua đi lại giữa hai thế giới: báo chí và hoạt động môi trường. Tình yêu thiên nhiên của ông “rất chân thật,” ông nói, “nhưng nó chưa bao giờ thật sự làm tôi thỏa mãn.”
Năm 2009, Kingsnorth đồng sáng lập The Dark Mountain Project. Mục tiêu là tạo nên một hình thức báo chí môi trường viết về thế giới tự nhiên nhưng không rơi vào giọng điệu báo động vốn đã bao trùm phần lớn phong trào ấy. Năm năm sau, Kingsnorth và vợ ông, một người Sikh, chuyển đến County Galway, trên bờ biển phía tây Ireland. Họ muốn dạy con tại nhà và sống dựa vào mảnh đất của mình.
Họ tìm được một căn nhà nhỏ trên một khu đất rộng hai mẫu rưỡi. “Chúng tôi có giếng nước, tự trồng cây để lấy củi, và nuôi gà vịt,” ông nói. “Nhà tôi có hẳn một cơ ngơi gia cầm mà con gái tôi thường quản lý. Con bé là cô gái phụ trách gia cầm.”
Đó cũng là một phần của một cuộc dịch chuyển thuộc linh lớn hơn. Ban đầu, Kingsnorth là một Phật tử Thiền tông. Sau đó ông là một “người theo tân ngoại giáo.” Rồi ông phát hiện một tu viện Chính Thống giáo Romania cách căn nhà nhỏ vùng quê của họ 40 phút. “Đó là điểm cuối của một hành trình thuộc linh dài,” ông nói.
Nhìn lại, việc ông tìm được đường đến Chính Thống giáo không có gì đáng ngạc nhiên, bởi truyền thống này có cách nối kết thế giới tự nhiên với cõi thiêng. Các cuộc khủng hoảng chính trị và công nghệ của chúng ta, Kingsnorth nói trong một cuộc trò chuyện năm 2023 với nhà văn bảo thủ Mỹ Rod Dreher, bắt nguồn từ “sự đánh mất mối liên hệ với đất. Anh sẽ không tìm thấy điều đó trong Giáo hội Anh. Nhưng điều thú vị là anh lại tìm thấy điều đó trong đức tin Chính Thống giáo. Nó không phải là thờ đất, nhưng nó lấp đầy điều Cơ Đốc giáo phương Tây còn thiếu: chiều kích huyền nhiệm.”
Tháng Giêng năm 2021, ông chịu báp-têm tại tu viện, trên sông Shannon. “Cả gia đình tôi đều ở đó, và điều ấy đã biến đổi tôi tận sâu xa,” Kingsnorth nói với tôi. Kể từ đó, ông trở thành một trong những tiếng nói quan trọng và sâu sắc nhất của những người mới quy đạo—những người hữu thần mới, nếu muốn gọi như thế. Bản tin trên Substack của ông, The Abbey of Misrule, với 64.000 độc giả, đã trở thành một địa chỉ gần như không thể bỏ qua đối với cộng đồng những người tìm kiếm đức tin còn non trẻ nhưng đang tăng trưởng nhanh chóng này.
Khi tôi hỏi Kingsnorth vì sao ông đón nhận Cơ Đốc giáo sau khi đã né tránh nó suốt cả đời, ông nói đó không phải là một “lựa chọn theo lý trí.”
“Nếu anh từng gặp một người thánh thiện, anh nhìn họ và nghĩ: Ồ, ở đây thật sự có điều gì đó—anh biết đấy, tôi rất muốn được giống như vậy,” ông nói. “Làm sao điều ấy xảy ra?”
Ngược lại, “nền văn hóa này” thì “không có một trái tim thuộc linh nào cả. Như thể chúng ta nghĩ rằng mình có thể quẳng bỏ hàng ngàn năm văn hóa tôn giáo, nghệ thuật tôn giáo, âm nhạc tôn giáo, ném tất cả ra ngoài cửa sổ, rồi rốt cuộc chỉ xây dựng và tạo ra toàn rác rưởi.”
Ông nói câu chuyện mà chúng ta vẫn tự kể cho mình trong khoảng 100 năm qua—về tiến bộ vô tận, chủ nghĩa thế tục và chiến thắng của lý trí—nay đã đi đến “một dạng điểm tới hạn.” Cuộc “thức tỉnh tôn giáo” lớn của chúng ta chỉ là việc con người “tìm đường trở lại với điều mà họ chưa bao giờ nghĩ mình sẽ quay về.”
Ayaan Hirsi Ali: Từ Infidel đến Cơ Đốc nhân bất đắc dĩ
Nếu có người nào có lý do để ghét tôn giáo, người đó hẳn là Ayaan Hirsi Ali.
Bà sinh trong một gia đình Hồi giáo ở Somalia năm 1969, năm phe cộng sản lên nắm quyền; và bà mới 5 tuổi khi bà ngoại cùng hai người bạn của bà ngoại ghì bà xuống, để một người đàn ông tay cầm kéo cắt bỏ âm vật và môi trong của bà—“như người bán thịt xén mỡ khỏi một miếng thịt,” sau này bà nhớ lại.
Khi mới ngoài hai mươi tuổi, bà chạy trốn sang Hà Lan, nơi bà được hưởng quy chế tị nạn chính trị và cuối cùng đắc cử vào quốc hội.
Tại đó, bà đón nhận nền văn hóa thế tục và tự do của Hà Lan. Bà trở thành người vô thần—và là một nhà phê bình Hồi giáo quyết liệt. Năm 2004, bạn của bà, đạo diễn Theo van Gogh, bị sát hại giữa Amsterdam vì làm bộ phim Submission, do Hirsi Ali đồng biên kịch, nói về nạn khinh ghét phụ nữ trong Hồi giáo. Một mảnh giấy được ghim bằng dao vào thi thể ông, với lời đe dọa rằng Hirsi Ali sẽ là người tiếp theo.
Năm 2006, bà kể lại câu chuyện đời mình trong hồi ký bán chạy Infidel. Những người chỉ trích gán cho bà là người bài Hồi giáo, nhưng bà vẫn tiếp tục và viết thêm nhiều sách. Rồi năm 2011, Hirsi Ali kết hôn với Niall Ferguson. Họ có hai con trai.
Nhưng Hirsi Ali, 55 tuổi, bị quá khứ giày vò. Bà chống chọi với trầm cảm.
“Tôi đối phó với nó bằng rượu,” bà nói với tôi. “Tôi cố xua đi khoảng trống dai dẳng ấy.” Bà gặp hết bác sĩ tâm thần này đến bác sĩ tâm thần khác, và “họ kê thuốc cho tôi; tôi đều đặn uống thuốc, mong mình sẽ khá hơn. Nhưng tôi không khá hơn.”
HYPERLINK "https://substackcdn.com/image/fetch/f_auto,q_auto:good,fl_progressive:steep/https%3A%2F%2Fsubstack-post-media.s3.amazonaws.com%2Fpublic%2Fimages%2F3616aafa-a3bd-4ecf-aa9c-6318487c747d_1024x479.png" \t "_blank"
Ayaan Hirsi Ali. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
“Tôi nghĩ chúng tôi đã đến đường cùng,” Ferguson nói với tôi. “Tôi nghĩ bà ấy sẽ chết. Tôi gần như hoàn toàn tuyệt vọng, không còn tìm được lối ra khỏi tất cả những tổn thương chồng chất trong đời bà ấy.”
Hirsi Ali nhớ lại một cuộc trò chuyện với nhà triết học Anh Roger Scruton không lâu trước khi ông qua đời năm 2020. “Tôi kể với ông ấy về chứng trầm cảm của mình,” Hirsi Ali nói về Scruton, vốn thuộc Giáo hội Anh, “và ông ấy nói: ‘Nếu bà không tin vào Đức Chúa Trời, ít nhất hãy tin vào cái đẹp.’” Mozart, opera, các thánh ca trong nhà thờ—đó là một lối ra khỏi bóng tối, bà nói. Bà không thể không xúc động trước một điều Scruton nói: “Những tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất được cảm hứng bởi một mối liên hệ nào đó với Đức Chúa Trời.”
Năm 2022, bà bắt đầu mở lòng với Cơ Đốc giáo, đi nhà thờ, suy tư, đọc sách: Đức Chúa Trời mà Cơ Đốc giáo nói đến là Đấng nào? Và bản chất mối quan hệ giữa một người với Ngài là gì? Điều đó thay đổi người ta như thế nào?
Rồi xảy ra cuộc tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 tháng 10 năm 2023.
Cuộc tấn công ấy, giống như các vụ tấn công ngày 11 tháng 9 năm 2001 tại Hoa Kỳ, là bằng chứng xác nhận mọi điều bà đã tin từ lâu về Hồi giáo. Bà kinh hoàng, nhưng bà cũng kinh ngạc trước niềm xác tín của người Israel. “Điều tôi thấy nơi các bạn Do Thái của mình là một đức tin gần như mù quáng vào Israel và sự tồn tại của Israel—sẽ có một phong trào phục quốc Do Thái, sẽ có một quê hương cho dân Do Thái,” bà nói. “Họ được thấm đẫm trong những câu chuyện Kinh Thánh ấy. Đó là một câu chuyện của đức tin.”
Tháng Mười Một năm ấy, Hirsi Ali đăng một tiểu luận, “Tại sao bây giờ tôi là Cơ Đốc nhân”—một lời đáp lại Bertrand Russell—trên UnHerd. “Chúng ta không thể chống lại chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan chỉ bằng các công cụ thế tục,” bà viết. “Để chinh phục trái tim và tâm trí của người Hồi giáo tại phương Tây, chúng ta phải trao cho họ điều gì đó hơn những video trên TikTok.”
Bài tiểu luận làm bùng lên vô số cuộc trò chuyện trong không gian truyền thông độc lập—bao gồm một cuốn sách mà bà hiện đang viết, và một cuộc tranh luận vào tháng Sáu giữa Hirsi Ali và Dawkins, trong đó bà lập luận rằng Cơ Đốc giáo là thành lũy chống lại “sự sùng bái quyền lực, tức chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan.” Cuộc tranh luận ấy giống như một dấu mốc khép lại vòng tròn đã mở ra từ cuộc gặp của bốn kỵ sĩ tại căn hộ của Hitchens năm 2007.
“Đã một năm, mười lăm tháng”—kể từ khi bà đón nhận đức tin mới—“và điều ấy với tôi vẫn gần như một phép lạ,” Hirsi Ali nói với tôi.
Ngày 1 tháng Chín, Hirsi Ali, Ferguson và các con trai của họ chịu báp-têm. “Tôi đã có một khoảng trống thuộc linh trong đời mình, và Ayaan chắc chắn cũng vậy,” Ferguson nói. “Việc bà ấy tìm thấy Đức Chúa Trời của Cơ Đốc giáo đã cứu bà ấy.”
Khi tôi hỏi Hirsi Ali và Ferguson liệu đức tin của họ là thật hay chỉ là một liều thuốc xoa dịu chính trị nhằm chống lại “sự sùng bái quyền lực”—liệu họ, như Dawkins nói, là “Cơ Đốc nhân theo nghĩa thần học” hay “Cơ Đốc nhân văn hóa”—họ nói đức tin của họ là “chân thật.”
“Anh không thể không cảm thấy được hồi phục sau một buổi lễ ở nhà thờ,” Ferguson nói. Rồi, nhắc đến nhà văn Pháp thế kỷ XIX Alexis de Tocqueville, người xem tôn giáo là hữu ích về mặt chính trị, ông nói thêm: “Con người Niall hoài nghi kiểu Tocqueville, từng nghĩ việc đi nhà thờ là điều hữu ích, nay đã nhường chỗ cho một người mong được đến nhà thờ.”
Hirsi Ali nói thêm: “Tôi thật sự rất biết ơn bất cứ điều gì từng hành hạ tôi,” bởi nó đã dẫn bà đến với Đức Chúa Trời. “Đời sống của tôi bây giờ phong phú hơn nhiều, viên mãn hơn nhiều so với trước kia.”
Bà tự hỏi: “Dawkins sẽ nói gì về điều đó?”
Richard Dawkins: “Cơ Đốc nhân văn hóa”
Richard Dawkins, 83 tuổi, sững sờ trước việc Hirsi Ali hướng về Đức Chúa Trời, như chính ông thừa nhận trong một bức thư ngỏ đăng trên Substack năm ngày sau khi tiểu luận của bà được xuất bản.
Khi chúng tôi nói chuyện—qua Zoom, Dawkins ngồi trong căn phòng sáng rực ở nhà mình tại Oxford, Anh—ông có vẻ hơi cáu kỉnh. Ông mặc áo blazer xanh hải quân, phía sau là một bức tường đầy sách, và ông dường như hơi bực bội trước tất cả những cuộc bàn luận về Đức Chúa Trời.
Dawkins đã gây xôn xao khi, giữa lúc các cuộc biểu tình ủng hộ Hamas ở London, New York và nhiều nơi khác thường trở nên bạo lực, ông xuất hiện trên một chương trình phát thanh của Anh và tự gọi mình là một “Cơ Đốc nhân văn hóa.” Ông nói tiếp: “Tôi phần nào cảm thấy như ở nhà trong khí chất Cơ Đốc giáo; tôi cảm thấy chúng ta là một quốc gia Cơ Đốc theo nghĩa đó.”
“Bây giờ tôi khá hối tiếc” vì đã nói tất cả những điều ấy, ông nói với tôi.
Richard Dawkins. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
Dawkins nhấn mạnh rằng ông, giống như Sam Harris, vẫn là người vô thần đúng nghĩa. Ông không thấy có gì mâu thuẫn khi nói, như ông đã nói với Rachel Johnson trên chương trình phát thanh Leading Britain’s Conversation (LBC), rằng ông “vui” khi số Cơ Đốc nhân ở Anh suy giảm, đồng thời “sẽ không vui nếu chúng ta mất tất cả những đại giáo đường và các nhà thờ giáo xứ xinh đẹp của chúng ta.”
“Xu hướng mà anh đang nói đến,” ông nói với tôi, ám chỉ Hirsi Ali, “theo tôi, phần lớn là những người không nhất thiết tin rằng Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, hay được sinh bởi một trinh nữ, hay đã sống lại từ cõi chết, nhưng dù vậy vẫn nghĩ rằng Cơ Đốc giáo là một điều tốt đẹp, rằng Cơ Đốc giáo sẽ ích lợi cho thế giới nếu có thêm người tin, rằng Cơ Đốc giáo có thể là một loại nền tảng cho rất nhiều điều tốt đẹp trong nền văn minh phương Tây.”
Tuy vậy, Dawkins cũng thừa nhận ông lo lắng về việc đánh mất thế giới mà Cơ Đốc giáo đã trao lại cho chúng ta. “Nếu chúng ta thay thế bằng bất cứ tôn giáo nào khác,” ông nói trong cuộc phỏng vấn tháng Tư, “thì điều đó thật sự khủng khiếp.”
Vấn đề không chỉ nằm ở mối nguy của điều đang kéo đến. Nó còn nằm ở những gì chúng ta đang mất, hoặc có thể sẽ mất.
“Một số tác phẩm âm nhạc vĩ đại nhất từng được viết là nhạc nhà thờ, âm nhạc được khơi nguồn từ Cơ Đốc giáo,” ông nói với tôi, vang vọng Roger Scruton. Ông nói J.S. Bach sẽ không bao giờ sáng tác Thánh lễ Si thứ—với tất cả những vĩ cầm, cello, giọng soprano và tenor đan vào nhau, hướng chúng ta lên trời—nếu không có chiều kích thiêng liêng. Cũng vậy, như Paul Kingsnorth nói, Dostoevsky sẽ không viết Anh em nhà Karamazov nếu ông không phải là người tin. Chẳng phải thế giới đã được thay đổi theo vô số cách khó tin bởi nghệ thuật ấy sao? Chẳng phải nghệ thuật ấy cũng đã thay đổi chúng ta sao?
Khi tôi nhắc với Kingsnorth về sự phân biệt của Dawkins giữa Cơ Đốc giáo theo nghĩa văn hóa và Cơ Đốc giáo theo nghĩa thần học, ông nói rằng theo ông, Dawkins đang cố ý né tránh một cuộc đối thoại sâu hơn về bản chất của niềm tin.
“Theo ông ấy, tất cả chỉ là hóa chất trong não,” Kingsnorth nói về Dawkins. “Nhưng lý do tôn giáo vẫn tồn tại là vì con người vẫn tiếp tục có những trải nghiệm về Đức Chúa Trời, và Dawkins dường như không muốn đối diện với điều đó.”
Jordan Hall: Những nhà phục hưng mới
Trong hai thập niên, Jordan Hall, 52 tuổi, đã lao đi trên một hành trình dồn dập, rực ánh đèn neon, xuyên qua cơn lốc Web 1.0: Burning Man, Big Sur, Aspen, các hòn đảo tư nhân, những chuyến đi xuyên nước Mỹ bằng xe RV, những cánh rừng rậm ở miền nam Ecuador.
Ông đã kiếm được cả một gia tài—ông đưa công ty công nghệ video DivX lên sàn năm 2006—rồi nghỉ hưu ở cái tuổi 35 “già đời” theo nghĩa đùa.
Ông luôn tìm kiếm, luôn tự hỏi ngoài kia còn có điều gì nữa, nhưng chưa bao giờ tìm thấy Điều Ấy.
Rồi năm 2022, Hall và Vanessa, khi ấy là bạn gái của ông, đến vùng núi Blue Ridge xanh tươi, trải dài, nhấp nhô ở miền cực tây của Bắc Carolina. Vùng đất Billy Graham.
Chính tại đó, ông và Vanessa tình cờ đặt chân đến Swannanoa Christian Church.
Gạch đỏ. Tháp chuông trắng. Một hội chúng nhỏ, chỉ vài trăm linh hồn.
Ông cảm nhận điều đó ngay lập tức.
“Ở đây có một sức sống,” Hall nói với tôi bằng giọng đều đều, trầm tư. “Một sự sáng rõ và phong phú—không giống thứ lạc quan cuồng nhiệt anh thấy ở Thung lũng Silicon 10 hay 15 năm trước, mà giống một cảm thức điềm tĩnh, vững nền, rằng mọi sự đều ổn định và tốt lành, rằng người bình thường vẫn có thể đi qua đời sống, dù sẽ có lúc thăng lúc trầm, bởi anh có một cộng đồng của những người thật sự quan tâm đến nhau.”
HYPERLINK "https://substackcdn.com/image/fetch/f_auto,q_auto:good,fl_progressive:steep/https%3A%2F%2Fsubstack-post-media.s3.amazonaws.com%2Fpublic%2Fimages%2F668a961e-9292-474c-b340-c0e22987162a_1024x479.png" \t "_blank"
Jordan Hall. (Ảnh xử lý bởi The Free Press)
Đó là lúc Hall biết cuộc cuống cuồng dò dẫm đi tìm ý nghĩa của mình cuối cùng đã kết thúc. Ông không ngờ điều đó. Mẹ ông là người Do Thái; cha ông là người Công giáo, nhưng chỉ trên danh nghĩa.
Theo ông thấy, sự trống rỗng mà ông đã chạy trốn suốt nhiều năm không chỉ là sự trống rỗng của riêng ông. Nó lan khắp xã hội.
“Thật ra chúng ta đang đối diện với một mối nguy rõ ràng và hiện hữu,” Hall nói. “Đó là sự hủy diệt văn hóa, và gần như chắc chắn nó sẽ sớm kết thúc trong thảm họa.”
Ông muốn nói đến tỷ lệ sinh lao dốc, gia đình tan rã, những mối quan hệ chỉ còn là cái bóng nhợt nhạt của các mối quan hệ thật—tình bạn và tình yêu bị số hóa thay cho những tương tác chân thật giữa những người thật sự quan tâm đến nhau và biết nhau. “Sự tan vỡ khủng khiếp nơi con người.”
Sự đổ vỡ này có thể giải thích vì sao, lần đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ, nam giới trẻ—những người bị ảnh hưởng đặc biệt nặng nề bởi cuộc khủng hoảng opioid, có tỷ lệ lấy bằng đại học thấp hơn, và ngày càng khó tìm được việc làm hơn bao giờ hết—lại gắn bó với tôn giáo hơn phụ nữ trẻ. Chẳng hạn, một khảo sát các hội thánh Chính Thống giáo tại Hoa Kỳ cho biết số người quy đạo tăng 78 phần trăm từ năm 2019 đến 2022, trong đó số tín hữu nam mới nhiều hơn nữ.
Điều đó cũng có thể giải thích vì sao rất nhiều người trẻ đang chống lại ý tưởng rằng tôn giáo là lỗi thời. Một trong những cuộc phục hưng Cơ Đốc giáo lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, diễn ra năm 2023 tại Wilmore, Kentucky, hầu như hoàn toàn do người trẻ dẫn dắt. Thánh lễ Latin của Công giáo đang trở lại, một phần do các giáo dân trẻ khao khát một cảm thức sâu hơn về truyền thống và nghi lễ. Những phụ nữ Công giáo trẻ đang đội khăn che đầu để bày tỏ lòng sùng kính.
Cha Jonah Teller, linh mục phụ tá 36 tuổi tại Nhà thờ St. Joseph ở Greenwich Village, một giáo xứ Công giáo cách Washington Square một dãy nhà về phía tây, nói với tôi rằng ông đã chứng kiến sự chuyển hướng của người trẻ về phía Đức Chúa Trời. Khi ông bắt đầu phục vụ tại đó vào mùa hè năm 2023, những buổi thảo luận hằng tuần vào Chúa nhật của ông chỉ thu hút chừng 20 người, và họ ngồi thành một vòng, chỉ một hàng. Giờ đây, trung bình có 100 người tham dự—phần lớn ở tuổi hai mươi hoặc ba mươi, tốt nghiệp các đại học hàng đầu và làm việc ở Phố Wall—và họ ngồi thành bốn hàng. Họ bày rượu vang và phô mai, thường mua từ Trader Joe’s, rồi nói về những câu hỏi quan trọng nhất: Vì sao chúng ta ở đây? Làm người tốt nghĩa là gì? Hay yêu thương nghĩa là gì? Hay biết điều gì là thật nghĩa là gì?
Ông không chắc các giáo dân mới đã tìm đường đến St. Joseph bằng cách nào. Truyền miệng, bạn bè, bạn của bạn bè.
Cha Jonah nghĩ rằng một lòng nhiệt thành mới, một mối liên hệ chân thật hơn với đức tin, đang trỗi lên từ sự cô đơn của những năm vừa qua. Có một “niềm hạnh phúc chân thật” mà ông có thể cảm nhận trong Thánh lễ, “một niềm háo hức, một tình yêu.”
Cuối cùng, điều đó không quá phức tạp. Theo ông, đó là một cách quay lưng lại với sự phân mảnh cực đoan. “Thế giới mà nhiều người lớn lên là một thế giới trong đó anh có khả năng trở thành vị thần của chính mình,” Cha Jonah nói. “Anh nên có nó chỉ vì anh muốn, bất kể đó là gì. Hoặc không cần có nó; và ‘nó’ ấy thậm chí có thể là chính sự hiện hữu của anh—một sự từ chối ngay cả việc hiện hữu.”
Nhưng chính sự thật rằng chúng ta hiện hữu là một lời chứng về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho chúng ta, ông nói. “Chúng ta luôn được mong muốn,” Cha Jonah nói. “Chúng ta luôn được yêu thương. Đây là điều quan trọng nhất. Đức Chúa Trời không phải là một mẹo thực hành chánh niệm hay một bài tập sống khỏe. Không phải là: ‘Tôi tìm thấy hệ thống đạo đức này có hiệu quả, nên tôi sẽ chọn nó.’ Đó không phải là một lựa chọn. Đó là một cuộc gặp gỡ với một tình yêu có thật và mang tính cá vị.”
Hall thừa nhận rằng đến với tình yêu ấy và để tình yêu ấy đi vào đời sống mình là một tiến trình—rũ bỏ những nhịp sống và tập tục của xã hội thế tục, đào sâu vào tận bên trong mình. “Anh sẽ không giải quyết được điều gì nếu không đi xuống sâu hơn,” ông nói với tôi. “Trọng tâm của cuộc khủng hoảng nằm ở đó.”

